Công ty Cổ phần SUMO Nhật Việt
0985 890 088 - 0901 469 669

Quy trình kỹ thuật trồng khoai tây vụ đông

Khoai tây vụ đông thường được bố trí trên chân đất 2 vụ lúa (lúa đông xuân + lúa mùa + khoai tây đông). Để cây khoai tây sinh trưởng tốt, năng suất cao thì cần bố trí trồng trên các chân đất vàn cao; đất có độ tơi xốp, thuận tiện trong việc tưới tiêu và thoát nước tốt.

Xem thêm: Quy trình trồng và chăm sóc bắp cải mang lại hiệu quả cao

                     Quy trình trồng và chăm sóc cây gấc

Quy trinh ky thuat trong khoai tay

I. CHỌN GIỐNG

Chọn các giống khoai tây đã được các cơ quan khoa học, Bộ NN&PTNT khuyến cáo thích hợp với vụ đông như: VT2, KT3, Diamant, Marabel, Solara, Atlantic, 

Giống khoai tây cần đảm bảo không có sâu bệnh, không dị dạng; kích thước các củ đồng đều, mập và khỏe.

Số lượng giống khoai tây cần cho 1 ha: tùy vào điều kiện sản xuất cụ thể (giống và đất trồng), lượng giống dao động trong khoảng 850 – 1.100 kg/ha (tức là khoảng 30 - 40 kg/sào Bắc bộ).

II. KỸ THUẬT TRỒNG

1. Thời vụ:

Tại vùng Trung du và miền núi phía Bắc: Tại các tỉnh miền núi thường trồng khoảng giữa đến cuối tháng 10, cho thu hoạch vào tháng 1 năm sau. Với các vùng trung du, bà con trồng đầu tháng 10 và thu hoạch vào cuối tháng 12.

Ở vùng Đồng bằng sông Hồng: Bà con trồng cuối tháng 10, đầu tháng 11, thu hoạch cuối tháng 1 đến khoảng đầu tháng 2 năm sau.

Tại vùng Bắc Trung bộ: bà con trồng đầu vào tháng 11, và thu hoạch cuối tháng 1 năm sau.

2. Chuẩn bị đất trồng

a) Đất trồng: Khoai tây trồng được trên các loại đất: đất thịt nhẹ, đất phù sa, đất cát pha… Để cây sinh trưởng tốt, cho năng suất cao thì nên bố trí trồng trên đất có độ tơi xốp, thuận tiện cho việc tưới tiêu và thoát nước tốt. Khoai tây vụ đông thường được trồng trên chân đất 2 vụ lúa (lúa mùa + lúa đông xuân + khoai tây vụ đông).

b) Làm đất, lên luống: Đất trồng khoai tây cần được cày, bừa kỹ, nhỏ, tơi xốp và kết hợp với thu gom gốc dạ, rác, cỏ nhằm hạn chế nguồn sâu bệnh truyền lại.  

Để đạt hiệu quả cao trong công việc xới đất, lên luống trồng khoai tây, quý bà con nên sử dụng máy xới đất Kubota model GS95V-T-K do công ty Cổ Phần SUMO Nhật Việt cung cấp.

Máy xới đất kubota

Ngoài ra, chúng tôi còn cung cấp những loại thiết bị, máy móc khác tiện dụng cho nhà nông như máy xới đất, máy gieo trồng, máy thu hoạch...

Có 2 cách lên luống:

+ Lên luống rộng 60 - 70 cm đối với luống đơn trồng 1 hàng.

+ Lên luống rộng 120 -140 cm đối với luống đôi trồng 2 hàng.

Rãnh của luống sâu từ 15 - 20 cm, rộng từ 30 - 40 cm.

3. Chuẩn bị phân bón:

- Rơm, rạ mục: Rơm rạ sau thu hoạch, bà con trộn cùng vôi bột với lượng 300 - 400 kg/ha (khoảng 10 - 15 kg/sào Bắc bộ). Chất rơm thành đống, tạo độ ẩm cho rơm rạ nhanh mục. Rơm rạ hoai mục có thể thay thế một phần phân hữu cơ, bón lót cho khoai tây rất tốt. Cần sử dụng khoảng 3 - 4 sào rơm rạ cho 1 sào khoai tây.  

- Lượng phân bón cho 1 ha trồng khoai tây: 

Phan bon cho khoai tay

- Cách bón phân cho khoai tây:

+ Cách 1: Bà con bón lót 100% Lân supe + toàn bộ phân chuồng hoai mục + 100% vôi +70% Kali clorua + 70% Urê . Khi vun xới lần 2, bà con bón thúc toàn bộ lượng Urê và Kali còn lại.

+ Cách 2: Bón lót 100% Lân supe + 100% vôi + toàn bộ phân chuồng hoai mục + 30% Kali clorua + 30% Urê. Bà con chia làm 2 lần bón, mỗi lần 1/2 lượng phân còn lại, mỗi lần bón cách nhau khoảng 15 - 20 ngày, kết hợp với các lần vun xới đợt 2 và đợt 3.

4. Mật độ, lượng giống và cách trồng

a) Mật độ: Tùy vào kích cỡ của củ giống để xác định mật độ trồng khoai tây. Với 1m2 trồng:

+ Đối với củ nhỏ: trồng khoảng 10 củ, mỗi củ cách nhau 17 - 20 cm 

+ Đối với củ trung bình: trồng 6 - 7 củ, khoảng cách giữa các củ từ 25 - 30 cm.

b) Lượng giống: Bà con chuẩn bị 32 - 40 kg/sào Bắc bộ (khoảng 900 – 1.100 kg/ha).

c) Xử lý giống:

- Bổ củ: Giống có củ to sẽ có năng suất cao hơn, với diện tích trên 1 ha, để tiết kiệm chi phí giống, với kích cỡ củ giống to (đường kính củ trên 4,5 cm) thì bà con nên tiến hành bổ củ giống. Tùy vào kích cỡ củ để bổ đôi hoặc bổ ba. Cách bổ củ giống và xử lý như sau:

+ Bà con cắt bằng dao sắc, có lưỡi mỏng. Nhúng dao vào nước xà phòng đậm đặc hoặc cồn có nồng độ cao trước mỗi lần cắt, giúp ngăn chặn nấm làm củ bị thối.

+ Mỗi miếng bổ cần có từ 2-3 mầm, và nên bổ dọc củ. Ngay sau khi bổ xong, chấm phần cắt vào bột xi-măng khô với lượng vừa đủ và không để bột bám nhiều sẽ hút nước làm củ giống khô, héo.

+ Khoai tây giống sau khi bổ cần rải đều, giữ ẩm bằng cách phủ tải ẩm lên trên. Không để thành đống sẽ dễ bị thối. Cần bảo quản ở nơi khô ráo, thoáng mát.

Sau khi xử lý xong, tùy vào điều kiện ruộng sản xuất, bà con đưa khoai giống ra ruộng trồng với thời gian tối thiểu là sau 12 giờ và tối đa là 1 tuần. Khi đất có độ ẩm tốt và đã được bón lót với phân chuồng hoai mục thì bà con có thể trồng sớm.

Với khoai giống nguyên củ và giống đã được bổ sau khi xử lý: trồng tốt nhất khi mầm hơi nhú là. Không nên để mầm mọc dài vì sẽ dễ bị gãy mầm khi trồng.

Lưu ý: Tuyệt đối không tưới nước trong thời gian bảo quản khi mang khoai giống về mà chưa trồng. Nếu muốn mầm mọc nhanh  hơn thì bà con cho khoai vào thúng, phủ rơm rạ hơi ẩm hoặc tải lên trên để nơikhô ráo, thoáng mát; nhưng tránh độ ẩm cao khiến khoai dễ bị thối.

d) Cách trồng:

- Trước khi trồng, bà con rạch hàng theo chiều dọc của luống, bón lót phân lân, phân đạm và phân chuồng xuống đáy rồi lấp lên trên 1 lớp đất mỏng. Cần tưới nước trước khi bón phân nếu đất khô để cây mọc nhanh hơn. 

- Củ giống đặt theo khoảng cách đã nêu trên, đặt mầm nằm ngang, lấp một lớp đất dày khoảng 3 - 5 cm phủ lên củ. Rải một lớp rơm rạ đã cắt ngắn để vừa giữ độ ẩm, và khi tưới ẩm, nước tưới sẽ không làm xói, làm trôi lớp đất phủ phía trên (phần củ giống nằm lộ trên mặt đất sẽ chuyển màu xanh, dẫn đến nảy mầm không tốt…).

Lưu ý:  không để rơm rạ quá ẩm hoặc đất quá khô khi trồng. Khi đặt củ cần tránh để củ tiếp xúc trực tiếp với phân bón, nhất là phân hóa học, khiến củ giống dễ bị chết.

III. CHĂM SÓC, PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH HẠI

1. Chăm sóc

a) Vun xới kết hợp với bón thúc

- Lần 1: Sau khi trồng khoảng 7 - 10 ngày, bà con tiến hành vun xới nhẹ và lấp thêm đất cho gốc, kết hợp với bón thúc lần 1 và vun luống cho khoai. Chú ý phân khi bón thúc cần bón vào giữa 2 khóm khoai hoặc mép luống, không bón trực tiếp vào gốc sẽ làm cây chết. Cần kết hợp với tỉa cây, mỗi khóm nên để lại từ 3 - 5 thân khỏe, mập.

- Lần 2: Sau khi trồng 20 - 25 ngày thì bà con tiến hành xới sâu, và vun cao luống, kết hợp với bón thúc lần 2.

- Lần 3: Sau trồng khoảng 35 - 40 ngày, cần xới nhẹ, kết hợp với làm cỏ. Sau đó vét rãnh và lấy đất ở rãnh để vun luống lên cao, sao cho luống cao, dày trong lần định hình cuối.

Lưu ý: Nếu bà con bón thúc một lần thì sẽ bón trong lần chăm sóc thứ 2.

b) Nước tưới: 

Tưới nước cho khoai là một trong những yếu tố quyết định đến năng suất và chất lượng của khoai. Trong 60 - 70 ngày đầu, khoai tây rất cần nước, nếuthiếu nước trong giai đoạn này sẽ dẫn đến giảm năng suất. Nếu để ruộng lúc ẩm, lúc khô sẽ làm củ khoai bị nứt, giảm chất lượng. Có 2 cách tưới nước cho khoai tây:

- Tưới rãnh: Bà con dẫn nước vào rãnh để nước thấm từ từ vào luống. Có ba lần tưới nước trong khoảng 60 - 70 ngày sau khi trồng. Chú ý để nước thấm đủ ẩm và không để  nước đọng lại trong rãnh. Cần kết hợp tưới nước trong các lần chăm sóc.

Lưu ý: Để nước không đọng tại rãnh thì cho ngập 1/3 luống với đất thịt nhẹ, và cho ngập1/2 luống đối với đất cát pha.

- Tưới gánh: Là cách tưới tưới xung quanh gốc (không tưới trực tiếp vào gốc cây).  Cần kết hợp tưới cùng với phân kali và phân đạm bằng cách hòa với nước và với lượng phân ít (pha mỗi loại phân 1 nắm nhỏ với 10 lít nước).  

Lưu ý: Cần để đất khô ráo trước khi thu hoạch khoảng 2 tuần. Không để nước vào ruộng, nếu mưa phải tháo nước kịp thời.

2. Phòng trừ sâu bệnh hại

a) Sâu hại

- Rệp sáp: Là loài sâu hại chủ yếu củ giống trong thời gian bảo quản. Rệp sáp xuất hiện vào giai đoạn cây sinh trưởng mạnh, thường tụ tập ở phần ngọn, ở nách và mặt dưới của lá. Đến thời kỹ sắp thu hoạch, rệp sáp thường sống chủ yếu ở gốc cây khoai tây, bám vào mắt của khoai và theo vào thời kỳ bảo quản. Ở giai đoạn bảo quản, rệp thường tập trung ở mắt củ và quanh mầm củ để hút nhựa của mầm khoai tây làm cho mầm bị teo, khô, củ giống khô và cứng lại, dẫn đến không trồng được.

Cách phòng trừ: Cần bảo quản củ giống ở nơi khô ráo, thoáng gió, xếp lên giàn và không xếp quá dày. Cần khử trùng giàn và kho chứa sạch sẽ trước khi đưa củ vào bảo quản. Không dùng củ khoai có rệp sáp làm giống, cần bón phân cân đối và hợp lý. Dùng các loại thuốc Supracid, Oncol, Suprathion 40EC, Penbis, Bi 58 50EC... để phòng trừ rệp sáp.

- Rệp đào: Là loại rệp chích hút dịch cây ở các phần non, làm lộc non bị cong queo dẫn đến rụng sớm; cành lá non không phát triển được. Rệp đào còn được coi là môi giới truyền bệnh virus gây nhàu lá ở khoai tây và nhiều cây trồng khác. Ngoài ra, rệp đào còn tiết chất dịch tạo môi trường phát triển cho nấm muội đen, bao bọc mặt lá của cây, cản trở đến khả năng quang hợp của lá, làm cho cây phát triển và sinh trưởng kém.

Cách phòng trừ: Bà con cần theo dõi ruộng/vườn trồng ngay từ đầu vụ để phát hiện kịp thời các ổ rệp mới xuất hiện và thu gom tiêu huỷ. Sử dụng hỗn hợp 10% dầu tỏi +40% dầu hạt bông +20% dầu đinh hương  (GC-Mite 70SL) để phòng trừ.

- Ruồi hại lá: Thường sinh trưởng và gây hại nặng cho khoai tây trong điều kiện thời tiết hanh khô. Con cái sử dụng gai để đẻ trứng vào dưới biểu bì lá và hút nhựa cây tạo ra những vết sần sùi trên mặt lá. Sâu non tạo ra những đường đục màu trắng, ngoằn nghoèo xuất hiện trên lá. Lá sẽ giảm khả năng quang hợp khi bị hại nặng, dẫn đến giảm năng suất. Ngoài ra, ruồi hại lá còn tạo điều kiện cho một số nấm bệnh xâm nhập.

Cách phòng trừ: Không được bón phân tươi, mà bà con chỉ sử dụng phân hữu cơ đã được ủ hoai mục. Cắt tỉa những lá bị hại nặng và dùng bẫy dính màu vàng để dẫn dụ và diệt ruồi trưởng thành. Sử dụng thuốc Cyromazine (Trigard 100SL) để phun trừ ruồi hại lá.

- Sâu khoang: Có tác hại chủ yếu là ăn lá, dẫn đến cây sinh trưởng kém. Sâu non sống tập trung quanh chỗ ổ trứng sau khi nở, gặm nhấm chất xanh của lá và phá hại mạnh vào buổi đêm.

Cách phòng trừ: Cần vệ sinh đồng ruộng và làm đất kỹ trước khi trồng. Nên sử dụng bả chua ngọt để bắt bướm,  ngắt bỏ ổ trứng để diệt sâu non. Cần phun thuốc kịp thời ngay khi sâu mới nở, sử dụng các loại thuốc như Karate 2,5EC, Regent 800WG, Prodigy 23F, Sumi-Alpha 5EC, Trebon 10EC… hoặc kết hợp hai loại thuốc với nhau như Trebon 10EC + Padan 95SP ; Sherpa 25EC + Netoxin 95SP…

- Sâu xám: Sâu cắn gốc cây làm đứt cây, dẫn đến cây đổ rạp, sâu phá hoại chủ yếu là trên cây con. Sâu non mới nở thường gặp lấm tấm biểu bì tại lá cây. Sâu già sống dưới đất, bò lên cắn đứt gốc cây vào ban đêm.

Cách phòng trừ: Bà con cần vệ sinh đồng ruộng, dọn sạch cỏ dại và đem tiêu hủy. Sử dụng thuốc hoá học: Chlorantraniliprole + Thiamethoxam (Virtako 300SC), Suprathion 40EC, …để phòng trừ

Cần xử lý đất trước khi trồng bằng một số loại thuốcdạng bột như: Vibasu 10H, Basudin 10G, Regent 3G, Furadan 3G…

Bà con cũng có thể dùng cám rang thơm trộn cùng với thuốc Vibasu 10G để bẫy sâu xám. Trộn 0,5 kg thuốc với 2 kg cám, rải đều cho 1.000 m2 trước khi trời tối. Rải thuốc hốc gần gốc cây hoặc theo hàng.

Khi mật độ của sâu cao, bà con nên chọn những loại thuốc hỗn hợp có nhiều hoạt chất và nhiều tác dụng (vị độc, tiếp xúc, xông hơi, thấm sâu, nội hấp) hoặc phối hợp khoảng 2-3 loại thuốc trừ sâu với những tác dụng khác nhau để diệt trừ sâu xám. Dùng thuốc đơn như: Shecpain 36EC; Gottoc 250EC; Basudin 50EC... hoặc phối hợp hai loại thuốc khác nhau như: Sevin 40% + Sherpa 25EC; Diptere 80WP + Karate 2,5EC; Regent 800WG + Sokupi 0,36AS; Ganoi 95SP + Abamectin 36EC… Nên phun khi chiều tối, và cho thêm khoảng 10ml chất bám dính hoặc 5 giọt nước rửa bát hoặc 20 - 30 ml dầu khoáng vào mỗi bình 8 - 12 lít để tăng khả năng bám dính của thuốc vào cơ thể sâu, sâu chết nhanh và nhiều hơn.

b) Bệnh hại:

- Bệnh sương mai (mốc sương):

Là bệnh do nấm gây ra, phá hoại tất cả các bộ phận của cây (lá, cành, thân, củ) và cả khi đang tồn trữ. Với điều kiện nhiệt độ  từ12 - 22oC, độ ẩm cao, trời âm u, có sương mù và mưa phùn ẩm ướt, bệnh gây hại nặng từ cuối tháng 12 đến cuối tháng 2.

+ Trên lá: Xuất hiện ở mép lá, lan rộng dần vào phía trong. Vết bệnh có thể nhiễm hết phiến và cuống lá. Vết bệnh trên lá có màu nâu, với điều kiện ẩm ướt thì mặt dưới của lá có phủ một lớp mốc màu trắng và khô lại khi thời tiết khô lạnh.

+ Trên thân, cành: Vết bệnh không có hình dáng ổn định, có màu nâu đen; phần mô bệnh teo lại, dẫn đến gãy hoặc thối mềm.

+ Trên củ khoai: Vết bệnh có màu nâu xám  hoặc màu nâu lan rộng và lõm sâu vào thịt củ. Khi thời tiết độ ẩm cao, vết bệnh phát triển thành lớp nấm có trắng xốp. Củ khoai có thể bị thối ướt hoặc teo khô.

- Bệnh héo vàng:

Là bệnh do nấm gây ra, làm mốc trắng ở gốc, cây bị héo, lá gốc héo vàng, bó mạch bị thâm đen sau vài ngày cây sẽ chết.

- Bệnh héo xanh:

Bệnh này do vi khuẩn gây ra, làm cây héo đột ngột, lá vẫn xanh, có thể héo theo từng cành, bó mạch hóa nâu chứa dịch nhờn trắng đục. Ở điều kiện nhiệt độ khoảng 27 - 35oC, mưa nhiều và to, rất thích hợp cho vi khuẩn phát triển và xâm nhập qua vết thương để vào cây do chăm sóc, tuyến trùng, côn trùng… Bệnh nặng ở vụ sớm. Vi khuẩn trong đất và tàn dư của cây bệnh năm trước là mầm bệnh cho vụ năm sau.

- Bệnh xoăn lá:

Là bệnh do virus gây ra, làm cho ngọn nhăn nheo, xoăn vàng; lá nhỏ, máu lá váng xanh xen kẽ, dị hình. Giai đoạn đầu sẽ khiến cây bị bệnh còi cọc, vẫn có củ nhưng củ nhỏ. Bệnh thường vào vụ sớm, với điều kiện nhiệt độ khoảng 28-35oC. Bệnh lan truyền bằng củ giống, dịch cây, hạt giống, qua tàn dư của cây bệnh vụ trước, và do bọ phấn chích hút. 

Biện pháp phòng trừ tổng hợp với các loại bệnh hại:

- Canh tác:

+ Cần có phương pháp luân canh với rau, màu khác họ và cây lương thực.

+ Sử dụng giống sạch bệnh, với mật độ thích hợp.

+ Dùng phân chuồng hoai mục. Tăng lượng phân Kali, bón cân đối lượng NPK, và bổ sung thêm Magiê, vào vụ mưa phải tăng cường bón vôi và giảm lượng đạm.

+ Trong quá trình chăm sóc và vun xới, tránh tạo vết thương cho cây. Phải nhổ bỏ ngay cây bệnh và đem đi tiêu hủy.

+ Thu gom các tàn dư, tiêu hủy hoặc đem chôn xa ruộng.

- Phòng trừ bằng thuốc hóa học:

+ Đối với bọ phấn truyền bệnh vi rút, cần phòng trừ bằng thuốc Trebon, Regent... Sử dụng thuốc Steptomysin, Amil 10SC, ValidamycinA, Esin-HP hoặc Staner.

+Đối với bệnh mốc sương: sử dụng các loại thuốc nội hấp để phun phòng: Score 250ND, Ridomil Mz 72WP. Khi xuất hiện vết bệnh điển hình, ở lần phun đầu tiên phải kết hợp với thuốc tiếp xúc như: Mancozeb 80WP, Zineb 80WG…

+ Đối với bệnh héo xanh, cần dùng thuốc gốc đồng như: Streptomycin sulfate + Copper Oxychloride + Zinc sulfate (PN - balacide 32WP); Streptomycin 50 g/kg (Miksabe 100WP) + Oxytetracycline 50g/kg; Oxytetracycline Hydrochloride 6% (Avalon 8WP) + Gentamicin Sulfate 2% …

+ Đối với bệnh héo vàng: cần sử dụng thuốc ngay khi bệnh mới xuất hiện: Ridomil MZ 72WP, Rovral 50WP…

+ Đối với bệnh xoăn lá: Biện pháp hiệu quả là quản lý con đường lây lan của bệnh. Ngoài ra, có thể dùng Sargent 6G để xử lý đất, nhằm diệt các loại côn trùng trong đất. Loại thuốc phổ biến là dầu khoáng SK Enspray 99EC có tác dụng trừ các loại sâu chích hút. Để nâng cao hiệu lực và tiêu diệt được một số loại sâu bệnh khác, nên dùng dầu khoáng nói trên với Sairifos 585EC hay Comda Gold 5WG, với liều lượng bằng 1/2 so với liều lượng khuyến cáo để phòng trừ. 

IV. THU HOẠCH VÀ BẢO QUẢN

1. Thu hoạch

Thời điểm thu hoạch của khoai tây được xác định là khi có từ 80% số lá trên thân chuyển sang màu vàng. Ngừng tưới nước trước khi thu hoạch từ 15 - 20 ngày, nếu trời mưa thì phải tháo hết nước.

Nên thu hoạch vào ngày nắng ráo. Trước khi thu hoạch từ 7 - 10 ngày nên cắt cách gốc khoảng 15 - 20 cm (cắt toàn bộ thân lá đối với ruộng giống) thì khoai tây sẽ không bị xây xát củ, mã đẹp dễ bán và bảo quản tốt.

Khi thu hoạch, bà con nên phân loại củ ngay tại ruộng, cho vào sọt và đưa về nơi bảo quản.

Thu hoạch khoai tây

2. Bảo quản khoai tây

- Để khoai tây không mọc mầm với điều kiện tự nhiên:

Sau khi thu hoạch, ở điều kiện khí hậu không thuận lợi cho việc bảo quản thì khoai tây chỉ để được tối đa không quá 2 tuần là khoai tây giảm chất lượng và có thể mọc mầm. 

Để bảo quản được tốt, trước tiên  bà con chọn những củ khoai cầm lên tay thấy nặng, chắc, vỏ trơn nhẵn và lành lặn. Khoai tây không được rửa trước khi đưa vào bảo quản.

+ Thời gian bảo quản trong khoảng 2 tháng (khoảng 10oC): Để khoai ở nơi tối, thông thoáng và mát. Không nên bảo quản cùng với các nông sản khác. Không để khoai trong thùng kín, hộp hoặc túi nilon. Hoàn toàn để khoai tây tránh xa ánh sáng mặt trời để khoai không bị mọc mầm. Nên thường xuyên kiểm tra khoai đang được bảo quản để loại những củ thối và củ đang có màu xanh trên bề mặt củ.

Theo kinh nghiệm của dân gian, bà con thường dải khoai tây xuống gầm tủ, gầm giường hoặc để trên sàn góc bếp, góc nhà với lượng khoai ít. Với lượng khoai tây nhiều: bà con cho khoai vào bao tải dứa có đục lỗ giúp cho lưu thông không khí môi trường bên ngoài và trong bao. Xếp 1 - 3 lớp chồng lên nhau ở nơi cao ráo, thoáng mát, không có ánh sáng trực tiếp.

+ Thời gian bảo quản khoai tây khoảng 3 - 4 tháng: Nên vùi kín khoai trong cát khô và chỉ áp dụng được với số lượng ít.

- Bảo quản khoai trong nhà lạnh: Hiện nay, để bảo quản khoai được lâu trên 4 tháng, người ta bảo quản khoai trong kho lạnh. Khoai tây được bảo quản trong nhà lạnh, cần đóng vào bao tải dứa có đục lỗ và xếp trong nhà lạnh. Kho lạnh có nhiệt độ ổn định từ 8 - 10oC. Khoai tây được bảo quản trong kho lạnh thường dùng làm giống vào vụ sau.

Trên đây là bài viết hướng dẫn quy trình kỹ thuật trồng khoai tây vụ đông. Cám ơn quý bà con đã quan tâm theo dõi và kính chúc quý bà con thành công!

Tiếp tục đồng hành cùng chúng tôi để có được những thông tin hữu ích và tìm được cho mình những sản phẩm thuộc dòng máy làm đất phù hợp. Hẹn gặp lại quý bà con trong những bài viết tiếp theo!

Thẻ liên quan

quy trình kỹ thuật trồng khoai tây vụ đông trồng khoai tây vụ đông trồng khoai tây khoai tây vụ đông

Bình luận

Lưu ý: không hỗ trợ mã Html!